Huyết dụ vị thuốc dễ tìm nhưng nhiều công dụng không nên bỏ qua.

Do có hình dáng khá đẹp lá lại có màu sắc đặc biệt là màu đỏ nên cây huyết dụ thường được trồng ở các gia đình vừa để làm thuốc lại vừa để làm cảnh

Có hai loại cây huyết dụ, loại lá đỏ cả hai mặt và loại lá đỏ một mặt còn mặt kia màu xanh. Cả hai loại đều được dùng làm thuốc, nhưng loại hai mặt đỏ tốt hơn.

Huyết dụ bổ máu, tan máu ứ

 Bộ phận dùng làm thuốc của cây là lá

Theo đông y, huyết dụ vị ngọt, tính bình, tác dụng làm mát máu, bổ huyết, vừa cầm máu lại vừa làm tan máu ứ, giảm đau phong thấp nhức xương trị rong kinh, xích bạch đới, kiết lỵ, lậu, sốt xuất huyết, thổ huyết, ho ra máu, tiểu tiện ra máu.

Liều dùng trung bình 20 – 30g lá tươi, 8 – 16g lá khô cho các dạng thuốc sắc, có thể dùng riêng hoặc phối hợp với các vị thuốc khác.

Huyết dụ có vị hơi ngọt, tính bình;

Vào kinh can, thận

Tác dụng làm mát huyết, cầm máu, tán ứ định thống, cầm máu, bổ huyết, tiêu ứ, dùng chữa rong kinh, chữa lỵ, xích bạch đới, phong thấp nhức xương…

Công dụng của cây huyết dụ theo đông y:

Thường được dùng trị lao phổi với ho thổ huyết, rong huyết, băng huyết, lậu huyết, kinh nguyệt ra quá nhiều, kiết lỵ ra máu, phong thấp, đau nhức xương, chấn thương bị sưng.

Dân gian còn dùng trị ho gà của trẻ em.

Cách dùng, liều lượng:

Ngày uống nước sắc từ 20-25g lá tươi. Khô dùng từ 10-15g dạng sắc uống.

Một số công dụng nên xem.

Dân gian coi huyết dụ là vị thuốc nam có tác dụng cầm máu. Sau đây là một số tác dụng chính của vị thuốc này:

Tác dụng điều trị lao phổi, thể ho thổ huyết

Tác dụng điều trị chứng rong kinh, băng huyết, kinh nguyệt quá nhiều

Tác dụng điều trị kiết lỵ ra máu (đi cầu ra máu tươi).

Tác dụng điều trị trĩ nội trĩ ngoại

Tác dụng điều trị bệnh tiểu ra máu.

Điều trị chảy máu cam

Sau đây là những phương thuốc trị liệu có dùng huyết dụ:

Chữa chứng sốt xuất huyết (kể cả các xuất huyết dưới da):

Lá huyết dụ tươi 30g, trắc bá sao đen 20g, cỏ nhọ nồi 20g. Sắc uống ngày 1 thang, chia 2 – 3 lần.

Chữa ho ra máu, chảy máu cam và chảy máu dưới da:

Lá huyết dụ tươi 30g, trắc bá diệp sao cháy 20g, cỏ nhọ nồi 20g, sắc uống ngày 1 thang, chia 2 – 3 lần.

Chữa ho ra máu:

Lá huyết dụ 10g, rễ rẻ quạt 8g, trắc bách diệp sao đen 4g, lá thài lài tía 4g, tất cả phơi khô, sắc uống ngày 1 thang, chia 2 – 3 lần.

Chữa các loại chảy máu (kể cả xuất huyết tử cung, tiêu chảy ra máu):

Lá huyết dụ tươi 40 – 50g (nếu sử dụng lá khô, hoa khô lượng chỉ bằng nửa lá tươi), sắc uống ngày 1 thang, chia 2 – 3 lần. Không dùng cho phụ nữ sau khi nạo thai hoặc đẻ sót rau.

Chữa bạch đới, khí hư, lỵ, rong huyết, viêm dạ dày, viêm ruột, trĩ nội, hậu môn lở loét ra máu:

Huyết dụ tươi 40g, lá sống đời (lá bỏng) 20g, xích đồng nam (lá băn) 20g, sắc uống ngày 1 thang, chia 2 – 3 lần.

Chữa vết thương hay phong thấp đau nhức:

Dùng huyết dụ (cả lá, hoa, rễ) 30g, huyết giác 15g, sắc uống ngày 1 thang, chia 2 – 3 lần.

Chữa rong kinh, băng huyết:

Lá huyết dụ tươi 20g, rễ cỏ tranh 10g, đài tồn tại của quả mướp 10g, rễ cỏ gừng 8g. Thái nhỏ cho 300ml nước sắc còn 100ml, chia 2 lần uống trong ngày.

Hoặc lá huyết dụ tươi 20g, cành tử tô 10g, hoa cau đực 10g, tóc một ít đốt thành than, thái nhỏ, trộn đều sao vàng rồi sắc uống ngày 1 thang, chia 2 – 3 lần.

Chữa đi tiểu ra máu:

Lá huyết dụ tươi 20g, rễ cây rang 10g, lá lẩu 10g, lá cây muối 10g, lá tiết dê 10g. Tất cả rửa sạch để ráo nước, giã nát vắt lấy nước cốt uống.

Chữa kiết lỵ:

Lá huyết dụ tươi 20g, cỏ nhọ nồi 12g, rau má 20g, giã nát cho vào chút nước vắt lấy nước cốt uống ngày 2 lần.

lưu ý kiên kỵ :

Phụ nữ đang mang thai hoặc sau khi sinh bị sót nhau không nên dùng

các bài thuốc từ cây huyết dụ có thể sẽ không có hiệu quả hoặc bị dị ứng ở một số bệnh nhân.

Mặc dầu huyết dụ có tính bình, bổ máu đi vào 2 kinh can thận nhưng ít người sử dụng làm vị thuốc bổ máu vì dễ bị dị ứng với một số người. nên vấn đề này mọi người nên xem kỹ lại.

Bạn cần tư vấn chữa bệnh?

Vui lòng điền thông tin, Thiên Tâm sẽ liên hệ lại



    Trả lời

    Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

    Call Now Button