Hội Chứng Thận Hư – Một Số Triệu Chứng Cơ bản

Hội Chứng Thận Hư – Một Số Triệu Chứng Cơ bản

 

Thận hư để chỉ những bệnh thận mà các tổn thương có tính chất thoái hóa, không có đặc tính viêm. Năm 1908 Munk dùng thuật ngữ “ Thận hư nhiễm mỡ “ để chỉ một loại bệnh thận mà về lâm sàng có phù và Protein niệu, mỡ ở ống thận và cầu thận bình thường.

 

Ngày nay, nhờ tiến bộ của kỹ thuật sinh thiết thận và kính hiển vi điện tử, người ta thấy rằng các biến loạn sinh hóa của thận hư nhiễm mỡ xuất hiện ở nhiều bệnh khác nhau, tổn thương cầu thận cũng đa dạng mặc dù các biểu hiện lâm sàng và sinh hóa tương đối giống nhau. Như vậy, thận hư nhiễm mỡ không phải là một bệnh đơn thuần như quan niệm trước kia.

Hội chứng thận hư (HCTH) thường biểu hiện tổn thương tối thiểu ở cầu thận hoặc những tổn thương dày và thoái hóa màng đáy của mao mạch cầu thận.

 

Nguyên nhân

Thận hư nhiễm mỡ: Tổn thương tối thiểu mất chân lồi biểu mô màng đáy cầu thận.

 

HỘI CHỨNG THẬN HƯ do Viêm cầu thận :

 

- Viêm cầu thận màng.

- Viêm cầu thận tăng sinh màng.

- Viêm cầu thận thoái hóa từng ổ, đoạn.

- Viêm cầu thận tăng sinh lan tỏa.

- Viêm cầu thận tăng sinh ngoài thành mạch (VCT tăng sinh hình liềm).

 

Hoặc bị hội chứng thận hư sau khi bệnh :

 

- Lupus ban đỏ hệ thống.

- Viêm quanh động mạch dạng nút.

- Ban xuất huyết dạng thấp.

- Viêm đa cơ.

 

Bệnh ác tính

 

- Hodgkin.

- Bệnh bạch cầu mạn thể Lympho.

- Đa u tủy xương.

- Ung thư biểu mô.

 

Nhiễm độc thai nghén.

Các bệnh chuyển hóa

 

- Amylose nguyên phát- thứ phát.

- Đái tháo đường.

- Suy giáp.

 

Các bệnh nhiễm độc

Các muối của kim loại nặng Hg, Au..

Thuốc:Triméthadione, Paraméthadione, Pénicillamine, Probénécid.

 

Nguyên nhân về mạch máu

 

- Tắc tĩnh mạch chủ.

- Tắc tĩnh mạch thận.

 

Nhiễm trùng

 

- Vi trùng: liên cầu, giang mai, viêm nội tâm mạc bán cấp.

- Ký sinh trùng: sốt rét, Bilharziose.

- Hội chứng thận hư bẩm sinh.

Triệu chứng lâm sàn bệnh hội chứng thận hư :

 

Protein niệu

 

Protein niệu trong hội chứng thận hư rất nhiều, thường trên 3,5g/24 giờ / 1,73 m2 diện tích cơ thể, Ở trẻ em, gần đây người ta đã đề xuất prôtêin niệu cần để chẩn đoán là 1,66 g/ngày/m2 diện tích cơ thể,

nếu albumin máu giảm dưới 25 g/l. Protein niệu thay đổi phụ thuộc vào mức lọc cầu thận và albumin máu, vì vậy prôtêin niệu có thể giảm trong trường hợp giảm nhiều mức lọc cầu thận hoặc giảm rất rõ và nhanh của albumin máu.

 

Protein niệu có thể gồm chủ yếu là albumin hoặc những protein có trọng lượng phân tử nhỏ hơn: gọi là protein niệu chọn lọc. Trong trường hợp khác, protein niệu chứa phần lớn là các protein huyết tương, đặc biệt là IgG: gọi là không chọn lọc.

 

Protein niệu là do các bất thường của hàng rào cầu thận mà tính thấm chọn lọc với các đại phân tử trở nên bất thường.

 

Giảm albumin máu

Giảm albumin máu < 30 g/l, thường gặp hơn là < 20 g/l.

Giảm albumin máu chủ yếu là do mất albumin qua nước tiểu, có sự tương quan giữa mức độ protein niệu và albumin máu.

 

Có 2 cơ chế chính để bù trừ lại sự mất albumin qua nước tiểu

 

Tổng hợp albumin ở gan gia tăng:

Bình thường gan tổng hợp 12 - 14 g albumin /ngày ở người lớn, ở bệnh hội chứng thận hư có thể gia tăng tổng hợp thêm khoảng 20%. Như vậy có thể thấy rằng sự tổng hợp này là không đủ để bù sự mất protein qua nước tiểu.

Một số yếu tố như tuổi, tình trạng dinh dưỡng kém, các bệnh gan có sẵn từ trước cũng có thể hạn chế sự tăng tổng hợp này. Điều này có thể giúp giải thích trong một số trường hợp giảm albumin máu rất rõ, với protein niệu < 10 g/24 giờ, trong khi một số trường hợp khác, có protein niệu lớn hơn nhiều, mà albumin máu còn bình thường hoặc giảm vừa phải.

Có sự chuyển vận albumin từ khu vực khoảng kẽ vào huyết tương. Nhưng sự bù trừ này cũng không đầy đủ để hồi phục lại albumin máu.

 

 

Phù

Thường xuất hiện nhanh, đột ngột, cũng có thể phù xuất hiện sau nhiễm trùng nhẹ ở đường mũi họng.

Tính chất của phù: Phù trắng mềm, ấn lõm, giữ dấu ấn lâu, phù toàn thân, không có hiện tượng viêm đau ở vùng bị phù. Có thể có dịch ở các màng bụng, màng phổi, màng tim, ở bộ phận sinh dục.

Các biến chứng nặng: phù phổi, phù thanh quản thường gặp ở trẻ em.

 

Triệu chứng nước tiểu

Lượng nước tiểu thường ít 300-400ml/24 giờ.

Mất nhiều protein niệu: trên 3,5gam/24 giờ. Có thể từ 3 - 10g/24 giờ, trường hợp nặng có thể 30 - 40g/24 giờ.

Lượng Protein tăng lên lúc đứng, lúc gắng sức, có mỡ lưỡng chiết, trụ mỡ trong nước tiểu.

Lipid niệu: thực chất đó là những kết tủa của Ester Cholesterol. Ure và Creatinine niệu tăng.

Triệu chứng thể dịch

Giảm Protein máu rất quan trọng.Protid máu dưới 60 g/l, trung bình là 50 g/l.

Albumin máu giảm dưới 30 g/l, trung bình 20 g/l. Albumin máu là chỉ số chính xác để đánh giá độ nặng của hội chứng thận hư.

Rối loạn các Globulin huyết thanh:

α2 Globulin tăng.

β Globulin tăng.

γ Globulin thường giảm trong hội chứng thận hư đơn thuần, trong hội chứng thận hư không đơn thuần có thể bình thường hoặc tăng.

Các thay đổi về lipid:

Cholesterol máu tăng, Phospholipid và Triglycerides tăng. Rối loạn Lipid trong hội chứng thận hư lúc khởi đầu tăng Cholesterol là chính. Tăng Triglycerides máu xuất hiện thứ phát sau đó. Rối loạn Lipid thường gặp hơn khi Albumin máu giảm dưới 20 g/l.

Các triệu chứng khác:

Na+ máu và Ca++ máu giảm.

Tăng Hematocrit, tăng hồng cầu chứng tỏ máu dễ đông.

Giảm Antithrombin III do mất qua nước tiểu, tăng tiểu cầu và Fibrinogen.

Rối loạn nội tíết: giảm Hormone tuyến giáp nếu hội chứng thận hư kéo dài.

Tiêu chuẩn xác định bệnh hội chứng thận hư :

Dựa vào lâm sàng và các xét nghiệm thông thường.

Các tiêu chuẩn chẩn đoán dựa vào các tiêu chuẩn sau đây:

Phù.

Protein niệu ≥ 3,5g/24 giờ.

Protein máu < 60g/l, Albumin máu < 30g/l.

Lipid máu tăng trên 900 mg%. Cholesterol máu tăng trên 250 mg% hoặc trên 6,5 mmol/l.

Điện di Protein máu: Albumin giảm, tỷ lệ A/G < 1, Globulin: α2 tăng, βtăng.

Nước tiểu có trụ mỡ, tinh thể lưỡng chiết. Trong đó tiêu chuẩn 2 và 3 là bắt buộc.

Chế Độ Dinh Dưỡng Cho Người Bệnh Hội Chứng Thận Hư

Thuốc Nam Điều Trị Hội Chứng Thận Hư

Thuốc Nam Thiên Tâm

 

Trang Chủ | Suy Thận | Hội Chứng Thận Hư | Viêm Cầu Thận|

| Viêm Khớp |