Bài thuốc nam và thuốc bắc chữa bệnh viêm cầu thận hay

Ngày 06/12/2017

 

Bài thuốc nam và thuốc bắc chữa bệnh viêm cầu thận hay

 

Kiểm tra và chẩn đoán bệnh viêm cầu thận

 

Dấu hiệu và các triệu chứng cụ thể có thể gợi ý viêm cầu thận, nhưng tình trạng này thường đi kèm với xét nghiệm nước tiểu không bình thường. Phân tích nước tiểu có thể hiển thị:

Tế bào hồng cầu, chỉ số về thiệt hại có thể đến từ cầu thận.

Các tế bào bạch cầu, chỉ số chung của viêm nhiễm.

Tăng protein, có thể cho biết thiệt hại đường tiết niệu.

Các chỉ tiêu khác, chẳng hạn như nồng độ creatinine hay urê trong máu tăng. Hoặc khó kiểm soát huyết áp cao có thể làm bác sĩ nghi ngờ viêm cầu thận.

Nếu bác sĩ nghi ngờ viêm cầu thận, có thể trải qua một hoặc nhiều các thủ tục chẩn đoán sau đây, ngoài việc xét nghiệm nước tiểu:

Xét nghiệm máu : Đây có thể cung cấp thông tin về thiệt hại thận và suy giảm các cơ chế lọc bằng cách đo mức các sản phẩm chất thải, chẳng hạn như creatinine và urea nitrogen trong máu.

 

Hình ảnh : Nếu bác sĩ phát hiện bằng chứng về thiệt hại, có thể đề nghị nghiên cứu chẩn đoán hình ảnh cho phép hình dung thận, chẳng hạn như x quang thận, kiểm tra siêu âm hoặc chụp cắt lớp vi tính (CT scan).

 

Sinh thiết thận : Thủ tục này liên quan đến việc sử dụng kim để lấy mảnh nhỏ mô thận để kiểm tra bằng kính hiển vi để xác định nguyên nhân gây ra viêm. Sinh thiết thận hầu như luôn luôn cần thiết để xác định chẩn đoán viêm cầu thận.

 

Các triệu chứng bệnh viêm cầu thận.

Các dấu hiệu và triệu chứng của viêm cầu thận có thể phụ thuộc vào dạng cấp tính hoặc mãn tính và nguyên nhân. Dấu hiệu đầu tiên có thể đến từ các triệu chứng hoặc từ kết quả của xét nghiệm nước tiểu thường xuyên. Các dấu hiệu và triệu chứng có thể bao gồm:

- Mầu nước tiểu Cola hoặc pha loãng, mầu trà từ các tế bào máu đỏ (tiểu máu).

- Bọt nước tiểu do (đạm) dư thừa protein.

- Tăng huyết áp.

- Tích nước (phù) rõ ở mặt, tay, chân và bụng.

- Mệt mỏi, thiếu máu hoặc suy thận.

- Thường xuyên đi tiểu ít hơn bình thường.

Nếu có dấu hiệu hoặc triệu chứng trên nên đi khám kịp thời.

 

Nguyên nhân bệnh viêm cầu thận

Mỗi một quả thận có chứa xấp xỉ 1 triệu bộ lọc nhỏ (tiểu cầu), trong đó gắn với một ống nước thu nhỏ. Mỗi tiểu cầu thận hình thành một ống sinh niệu, các đơn vị chức năng của thận. Các tiểu cầu lọc máu khi nó đi qua thận, và trả lại máu sau lọc máu. Các cầu thận lọc bằng cách giữ lại các chất cần thiết, chẳng hạn như protein. Chất thải đi vào bàng quang như nước tiểu thông qua một ống (niệu quản) từ mỗi thận và đi ra khỏi cơ thể khi đi tiểu.

Viêm cầu thận có thể làm hỏng thận, mất khả năng lọc làm cho mức dịch và chất thải nguy hiểm tích tụ trong cơ thể (gọi là suy thận) và làm mất protein, được bài tiết trong nước tiểu.

Thường thì nguyên nhân của viêm cầu thận là không rõ. Nguyên nhân được biết bao gồm:

Nhiễm trùng

Liên cầu khuẩn viêm cầu thận. Viêm cầu thận có thể phát triển sau khi bị bệnh ở cổ họng, hoặc hiếm khi trên da (chốc lở). Viêm cầu thận sau nhiễm trùng đang trở thành ít phổ biến ở Hoa Kỳ, nhiều khả năng vì điều trị kháng sinh nhanh chóng và đầy đủ cho hầu hết các nhiễm khuẩn liên cầu khuẩn.

Vi khuẩn viêm nội tâm mạc. Vi khuẩn đôi khi có thể lan truyền qua máu và trong tim, gây ra nhiễm trùng một hay nhiều van tim. Những người có nguy cơ cao nhất là những người có khuyết tật tim, như van tim bị tổn thương hoặc nhân tạo.

Nhiễm virus. Trong số những người nhiễm virus có thể gây ra viêm cầu thận là các virus suy giảm miễn dịch ở người (HIV) gây ra AIDS, và các virus bệnh viêm gan B và viêm gan C, chủ yếu ảnh hưởng đến gan.

Bệnh miễn dịch

Lupus. Một bệnh viêm mãn tính, bệnh Lupus có thể ảnh hưởng đến nhiều bộ phận của cơ thể, bao gồm da, khớp, thận, tế bào máu, tim và phổi.

Hội chứng Goodpasture. Một rối loạn miễn dịch phổi hiếm có thể bắt chước viêm phổi, hội chứng Goodpasture gây chảy máu (xuất huyết) vào phổi cũng như viêm cầu thận.

Bệnh lí thận IgA : Đặc trưng bởi thường xuyên tiểu máu, bệnh cầu thận này chủ yếu từ các globulin miễn dịch A (IgA) trong tiểu cầu. Bệnh lí thận IgA có thể tiến triển trong nhiều năm không có triệu chứng đáng chú ý. Rối loạn này có vẻ phổ biến hơn ở nam nhiều hơn nữ.

Viêm mạch (Vasculitis)

Bệnh Polyarteritis : Đây dạng viêm mạch ảnh hưởng đến các mạch máu nhỏ và vừa ở nhiều nơi trên cơ thể, chẳng hạn như tim, thận và ruột.

U hạt Wegener: Đây dạng viêm mạch ảnh hưởng đến các mạch máu nhỏ và vừa trong phổi, đường hô hấp trên và thận.

 

Vấn đề gây sẹo của cầu thận

Tăng huyết áp : Thiệt hại cho thận và khả năng thực hiện chức năng bình thường có thể xảy ra. Viêm cầu thận cũng có thể gây tăng huyết áp bởi vì nó làm giảm chức năng thận.

Bệnh tiểu đường bệnh thận : Bệnh thận tiểu đường (tiểu đường thận) có thể ảnh hưởng đến bất cứ ai có bệnh tiểu đường. Bệnh tiểu đường thận thường phát triển trong nhiều năm. Kiểm soát tốt lượng đường trong máu và huyết áp có thể ngăn ngừa hoặc làm chậm tổn thương thận.

Glomerulosclerosis. Đặc trưng bởi sẹo rải rác một số cầu thận, vấn đề này có thể do bệnh khác hoặc xảy ra không có lý do được biết đến.

Viêm cầu thận mãn tính đôi khi phát triển sau khi viêm cầu thận cấp tính. Ở một số người không có tiền sử bệnh thận, do đó, dấu hiệu đầu tiên của viêm cầu thận mãn tính là suy thận mãn tính. Không thường xuyên, viêm cầu thận mãn tính di truyền trong gia đình. Một hình thức kế thừa là hội chứng Alport, cũng có thể liên quan đến suy giảm thính giác hoặc thị giác.

 

Các biến chứng.

Các biến chứng của viêm cầu thận có thể bao gồm:

Suy thận cấp tính. Mất chức năng ở phần lọc có thể gây ra các sản phẩm chất thải tích lũy nhanh chóng. Tình trạng này có thể có nghĩa sẽ cần phải lọc máu khẩn cấp, lọc nhân tạo là một phương tiện loại bỏ dịch thừa và chất thải từ máu.

Suy thận mãn tính: Biến chứng này đặc biệt nghiêm trọng, thận mất dần chức năng. Chức năng thận ít hơn 10 phần trăm công suất bình thường chỉ ra bệnh thận giai đoạn cuối, thường đòi hỏi phải chạy thận hoặc ghép thận để duy trì cuộc sống.

Tăng huyết áp: Thiệt hại thận và tích tụ các chất thải trong máu có thể làm tăng huyết áp.

Hội chứng thận hư: Đây là một nhóm các dấu hiệu và triệu chứng có thể đi kèm với viêm cầu thận và vấn đề khác ảnh hưởng đến khả năng lọc của cầu thận. Hội chứng thận hư được đặc trưng bởi mức protein cao trong nước tiểu, kết quả là hàm lượng protein thấp trong máu, cholesterol máu cao; và giữ nước (phù) mí mắt, chân và bụng.

 

Nhãn là một loại cây cho quả ăn rất ngon, được trồng ở nhiều nơi trên khắp đất nước và lá nhãn cũng là một loại thuốc quý. Tuy chưa có sách vở nào nghiên cứu về vấn đề này, nhưng qua kinh nghiệm dân gian cho thấy lá nhãn có tác dụng chữa một số căn bệnh về thận.

Các bài thuốc nam chữa viêm cầu thận hay

Ví dụ như lá nhãn chữa viêm cầu thận cấp, viêm cầu thận mạn và đặc biệt là đối với người bị suy thận mạn. nếu không được điều trị cuối cùng sẽ phải chạy thận nhân tạo hoặc ghép thận. Tuy không chữa khỏi được suy thận nhưng lá nhãn có tác dụng làm chậm tiến trình suy thận và cải thiện chức năng thận cho bệnh nhân suy thận mạn nhất là bệnh nhân bị suy thận ở giai đoạn sớm và giúp bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn III tránh phải chạy thận thường xuyên.

Cách thức dùng lá nhãn như sau: lá nhãn tự rụng (không phải do hái), được thu gom, rửa sạch, phơi khô, đem thái nhỏ hoặc không cần thái, sao vàng, hạ thổ.

Công dụng:

Chữa viêm cầu thận cấp: lá nhãn (đã chế biến) sắc uống ngày 40g. Dùng trong 10-15 ngày, rồi đi xét nghiệm lại nước tiểu.

Viêm cầu thận mạn: lá nhãn (đã chế biến) sắc uống ngày 40g. Dùng trong 1 tháng. Đi xét nghiệm nước tiểu định kỳ và nhắc lại điều trị mỗi đợt 1 tháng.

Suy thận mạn: lá nhãn (đã chế biến) sắc uống ngày 40g. Dùng liên tục, có thể nghỉ giữa các đợt 5-10 ngày. Đi xét nghiệm nước tiểu định kỳ.

Các bài thuốc bắc chữa viêm cầu thận hay

Thể tỳ dương hư

Người bệnh phù ít, không rõ ràng, phù ở mi mắt, sắc mặt trắng xanh, tay chân mệt mỏi, ăn kém, hay đầy bụng, phân nát, tiểu tiện ít, chất lưỡi bệu, có vết răng, chân tay lạnh, mạch hoãn. Phép chữa là ôn bổ tỳ dương, lợi niệu. Dùng một trong các bài thuốc sau:

Bài 1: ý dĩ 30g, củ mài 20g, biển đậu 20g, mã đề 20g, nhục quế 4g, gừng khô 8g, đại hồi 8g, đăng tâm 4g, đậu đỏ 20g. Sắc uống ngày 1 thang.

Bài 2: quế chi 6g, thương truật 12g, hậu phác 6g, xuyên tiêu 4g, phục linh bì 12g, trạch tả 12g, ý dĩ 16g, sa tiền 20g. Sắc uống ngày 1 thang.

Bài 3: phụ tử chế 8g, can khương 4g, bạch truật 12g, cam thảo 4g, hậu phác 8g, mộc hương 8g, thảo quả 8g, đại phúc bì 8g, mộc qua 8g, phục linh 16g. Sắc uống ngày 1 thang.

Kế hợp châm cứu các huyệt tỳ du, túc tam lý, tam tiêu du.

Thể thận tỳ dương hư

Người bệnh phù không rõ ràng, phù ít, kéo dài (nhất là ở hai mắt cá chân), bụng trướng, nước tiểu ít, sắc mặt trắng xanh, lưỡi bệu, mệt mỏi, sợ lạnh, lưng mỏi lạnh, chân tay lạnh, mạch trầm tế. Phép chữa là ôn thận tỳ dương. Dùng một trong các bài:

Bài 1: thổ phục linh 16g, củ mài 16g, tỳ giải 16g, đại hồi 10g, nhục quế 8g, tiểu hồi 12g, mã đề 12g, đậu đỏ 20g, cỏ xước 20g, đậu đen 20g, gừng khô 6g. Sắc uống ngày 1 thang.

Bài 2: bạch truật 12g, bạch thược 12g, bạch linh 12g, phụ tử (chế) 8g, sinh khương 6g, trạch tả 12g, sa tiền 12g, trư linh 8g, nhục quế 4g. Sắc uống ngày 1 thang.

Kết hợp châm cứu các huyệt quan nguyên, khí hải, tỳ du, túc tam lý, tam âm giao.

Thể âm hư dương xung

Hay gặp ở viêm cầu thận mạn có tăng huyết áp. Người bệnh biểu hiện phù không nhiều hoặc đã hết phù, nhức đầu chóng mặt, hồi hộp đánh trống ngực, miệng khát, môi đỏ, họng khô, chất lưỡi đỏ, mạch huyền sác. Phép chữa là bình can tư âm lợi thủy. Dùng bài: câu đằng 16g, tang ký sinh 16g, cúc hoa 12g, sa sâm 12g, ngưu tất 12g, đan sâm 12g, quy bản 12g, trạch tả 12g, sa tiền tử 16g. Sắc uống ngày 1 thang.

Kết hợp châm cứu các huyệt tam âm giao, thái xung, can du, nội quan, thần môn và các huyệt tại chỗ theo chứng.

Thể viêm cầu thận mạn có tăng urê máu

Do công năng của tỳ dương và thận dương giảm sút quá nhiều nên trọc âm nghịch lên, gây chứng urê huyết cao gọi là dương hư âm nghịch. Người bệnh biểu hiện lợm giọng, buồn nôn, sắc mặt đen, đau tức ngực, bụng trướng, đại tiện lỏng, tiểu tiện ngắn, ít, chất lưỡi bệu, rêu trắng dày, mạch huyền tế, nhu tế. Phép chữa là ôn dương giáng nghịch. Dùng bài: phụ tử chế 12 – 16g, đại hoàng 12 – 16g, trần bì 8g, phục linh 12g, bạch truật 12g, hậu phác 6g, bán hạ chế 12g, sinh khương 8g, đẳng sâm 20g. Sắc uống ngày 1 thang.

Nếu đại tiện phân nát, nước tiểu trong, đau bụng, rêu lưỡi trắng trơn (trọc khí hóa hàn) thêm can khương 8g, ngô thù 8g.

Nếu nước tiểu ít, đại tiện táo, miệng hôi lở loét (trọc khí hóa nhiệt) thêm hoàng liên 12g, trúc nhự 12g, chỉ thực 12g, can khương 4g, đẳng sâm 16g, cam thảo 4g, đại táo 12g.

Nếu có hiện tượng trụy mạch, dùng Độc sâm thang hoặc bài Sinh mạch tán gồm (nhân sâm 8g, ngũ vị tử 8g, mạch môn 8g) kết hợp các vị thuốc hồi dương như phụ tử (chế) 12g, nhục quế 6g, can khương 6g. Sắc uống.

Thuốc Nam Thiên Tâm

Trang Chủ | Suy Thận | Hội Chứng Thận Hư | Viêm Cầu Thận|

| Viêm Khớp | Khô Khớp | Thoái Hóa Khớp | Gout |